Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bổ sung kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên. Để hiện thực hóa mục tiêu này, nền kinh tế Việt Nam cần có đột phá mạnh mẽ, đặc biệt là phấn đấu đạt tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn 2026-2030.
Về mặt lý thuyết, nền kinh tế tăng trưởng hai con số là khi GDP quốc gia tăng từ 10% trở lên trong một năm. Đây là mức tăng trưởng rất cao, thường chỉ xuất hiện ở các nền kinh tế đang phát triển nhanh hoặc trong giai đoạn bùng nổ kinh tế. Thực tiễn thế giới đã chứng kiến những kỳ tích này, ví dụ như: Trung Quốc (giai đoạn 1980 - 2010, nhiều năm đạt tăng trưởng trên 10% nhờ công nghiệp hóa, xuất khẩu mạnh và thu hút đầu tư nước ngoài); Việt Nam (giai đoạn 1990 và đầu 2000, một số năm tiệm cận hai con số nhờ đổi mới và hội nhập); hay Ấn Độ (sau năm 2000 nhờ cải cách kinh tế và bùng nổ công nghệ thông tin).
Để đạt được điều kiện tăng trưởng này, các giải pháp thường dựa trên việc đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng xuất khẩu và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, tăng trưởng hai con số cũng đi kèm những thách thức lớn như lạm phát cao, ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng thu nhập và nguy cơ bong bóng tài chính.
Trong bối cảnh đó, Hội thảo quốc tế CIBM 2025 với chủ đề "Quản trị kinh doanh với Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số bền vững của Việt Nam" mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Việc đổi mới sáng tạo trong quản trị doanh nghiệp được xem là yếu tố then chốt để tạo ra những đột phá mạnh mẽ, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Hội thảo là diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp cùng chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, tìm kiếm các giải pháp quản trị tiên tiến, góp phần vào sự phát triển bền vững và thịnh vượng của Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Ban Tổ chức đã nhận được hơn 170 công trình nghiên cứu từ các nhà khoa học trong và ngoài nước. Tất cả các công trình đều được Ban biên tập chuyên môn bình duyệt và tuyển chọn kỹ lưỡng các bài chất lượng để đăng trên Kỷ yếu Hội thảo và Tạp chí Kinh tế và Kinh doanh.
Khởi đầu của Kỷ nguyên số hóa được biên soạn, tập hợp những bài báo, bài phỏng vấn của chính tác giả, xoay quanh những vấn đề thời sự của đất nước như: phát triển bền vững, ổn định vĩ mô, quản trị doanh nghiệp, chuyển đổi số, kinh tế số, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao...
Nội dung cuốn sách đi sâu vào việc đánh giá bằng phương pháp định lượng tác động của ứng dụng công nghệ số như phần mềm, tổ chức ứng dụng công nghệ số trong doanh nghiệp, kỹ năng công nghệ số của người lao động, các công nghệ số hiện đại, bảo mật và an toàn thông tin,... đến năng suất lao động của doanh nghiệp; đồng thời đưa ra các đánh giá tác động của kinh tế số tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tại Việt Nam; từ đó đề xuất giải pháp phát triển kinh tế số trong thời gian tới cho Việt Nam.
Cụ thể cuốn sách gồm 3 phần:
Phần 1. Tác động của công nghệ số tới năng suất lao động doanh nghiệp Việt Nam
Phần 2. Tác động của kinh tế số tới dịch chuyển cơ cấu kinh tế và năng suất lao động tại Việt Nam
Phần 3. Một số đề xuất về chuyển đổi số nhằm phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới
Cuốn sách sẽ hữu ích với các doanh nghiệp đang ứng dụng công nghệ số và thực hiện chuyển đổi số quá trình kinh doanh; các nhà quản lý tại các cơ quan chính phủ, bộ, ban, ngành đang thực thi chương trình chuyển đổi số, xây dựng chính phủ số tại trung ương và địa phương; các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên và các độc giả quan tâm tới quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam.
Cuốn “Giáo trình Kế toán khách sạn và du lịch” được biên soạn nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành Quản trị khách sạn, du lịch, kế toán và quản trị kinh doanh. Giáo trình cung cấp kiến thức về nguyên tắc, chuẩn mực, quy định kế toán tài chính và kế toán quản trị áp dụng trong doanh nghiệp khách sạn – du lịch. Nội dung gồm 8 chương, trình bày từ tổng quan đến các nghiệp vụ cụ thể như kế toán tiền, hàng tồn kho, tài sản cố định, doanh thu, chi phí, lập dự toán và sử dụng thông tin kế toán để ra quyết định quản lý hiệu quả trong ngành dịch vụ này.
Giày dép là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân 6,4%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020.
Theo số liệu của World Footwear Yearbook, năm 2020, Việt Nam xếp thứ hai thế giới về xuất khẩu giày dép với 12,1 tỷ đôi, chiếm 10,2% tổng số lượng giày dép xuất khẩu của thế giới, tăng 4,4 lần so với năm 2011. Trong đó, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu giày vải lớn nhất xét về giá trị. Về thị trường, mặt hàng giày dép của Việt Nam đã được xuất khẩu tới hơn 150 thị trường trên thế giới, trong đó, tập trung ở những thị trường chính như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Nhật Bản, Anh…
Với việc nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết và đi vào thực thi, cơ hội xuất khẩu giày dép sang các thị trường truyền thống và thị trường mới sẽ được mở rộng hơn nữa. Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) cũng nằm trong số đó. Chính thức thực thi từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 trong bối cảnh đặc biệt khi thế giới đang chống chọi với đại dịch COVID-19, với lộ trình cam kết cắt giảm và xóa bỏ thuế quan khá nhanh và sâu trong tối đa là 7 năm, EVFTA được kỳ vọng là đòn bẩy vững chắc giúp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng da giày của Việt Nam sang thị trường EU - một thị trường lớn với nhu cầu đa dạng và yêu cầu cao về chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa.
Biển và đại dương có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển, sự tồn tại của nhân loại, của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Trong thế kỷ XXI - Thế kỷ biển và đại dương, các nước trên thế giới đã có những chiến lược phát triển biển mới, tạo thế mạnh trong cạnh tranh. Nhiều quốc gia đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực khai thác sử dụng tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia ven biển đã trở thành những quốc gia giàu có nhờ khai thác tiềm năng, thế mạnh từ biển. Nhiều quốc gia có biển đã ưu tiên thúc đẩy một số ngành nghề, sản phẩm chủ lực của biển. Việt Nam, với vị thế đặc thù, là “ban công” hướng ra biển Thái Bình Dương, có nhiều thuận lợi cho hoạt động giao thương và hội nhập kinh tế quốc tế. Từ thế đứng tự nhiên - lịch sử, cùng với vị thế của đất nước trên thế giới, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế trên biển, vùng ven biển và hải đảo, đưa nước ta trở thành “quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn”. Việt Nam đã có nhiều bước đi quan trọng cho phát triển kinh tế biển bao gồm xác định xây dựng
mô hình phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ quan trọng, là cơ sở khoa học để xây dựng các định hướng, chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế biển hướng tới phát triển bền vững với cốt lõi là tăng trưởng xanh.
Khu vực ven bờ tỉnh Quảng Ninh và các vùng phụ cận là khu vực cửa ngõ quan trọng nhất ở phía Đông Bắc của Việt Nam. Đây là khu vực có vùng bờ biển rộng, có hệ thống biển - hải đảo lớn ở phía Đông, có vị trí tiền đồn biên giới cả trên đất liền và trên biển phía Bắc vịnh Bắc Bộ tạo nên vị thế trọng yếu trong phát triển kinh tế, bảo vệ tài nguyên - môi trường biển gắn với đảm bảo an ninh,
chủ quyền quốc gia, nhất là không gian biển - đảo từ vùng ven bờ đến đường phân định ranh giới trên vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc. Bên cạnh đó, khu vực này còn có tiềm năng về tự nhiên, tài nguyên to lớn và mang tính đặc thù đối với phát triển kinh tế biển.
Trong quá trình phát triển kinh tế, sự phát triển nhanh, mạnh của kinh tế du lịch, nuôi trồng thủy hải sản, công nghiệp ven biển cũng gây nên những tổn thất về mặt tự nhiên như thu hẹp diện tích cư trú của sinh vật, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh. Sự phát triển của hệ thống cảng biển tạo ra những vấn đề nhạy cảm đối với môi trường. Sự hoạt động quá tải của hệ thống nhiều khu công nghiệp, khu đô thị lớn dọc theo dải ven biển đã tạo ra một khối lượng lớn nước thải công nghiệp mà hầu hết chưa qua xử lý được đổ thải vào sông đưa ra biển. Hiện tượng mực nước biển dâng cao gây mất đất, gia tăng
ngập lụt, xói lở dọc bờ biển, các khu vực cửa sông và trên các đảo, gây mặn hóa và gia tăng xâm nhập mặn, làm đảo lộn cân bằng tự nhiên, sinh thái ven bờ.
Khu vực ven bờ tỉnh Quảng Ninh và phụ cận được xác định là các huyện ven biển của tỉnh Quảng Ninh (gồm: thành phố Móng Cái, các huyện Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, huyện đảo Vân Đồn, thành phố Cẩm Phả, thành phố Hạ Long, thị xã Quảng Yên và huyện đảo Cô Tô) và các huyện ven biển của thành phố Hải Phòng có địa giới hành chính giáp với tỉnh Quảng Ninh (đảo Cát Hải,…).
Nội dung sách sách chuyên khảo được chia thành bốn phần, với 10 chương. Cụ thể:
Phần 1: Tổng quan về hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (chương 1 và chương 2);
Phần 2: Kinh nghiệm quốc tế về tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (chương 3 đến chương 5);
Phần 3: Một số vấn đề pháp lý về việc tham gia hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam (chương 6 đến chương 8);
Phần 4: Định hướng và một số giải pháp tăng cường sự tham gia của Việt Nam vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (chương 9 và chương 10).
Sách chuyên khảo có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và học tập cho sinh viên, học viên các chương trình đào tạo cử nhân và sau đại học nhiều chuyên ngành của Trường Đại học Ngoại Thương (như chương trình cử nhân Luật Thương mại quốc tế; chương trình cử nhân Thương mại quốc tế; chương trình cử nhân Kinh tế đối ngoại; chương trình cử nhân Kinh tế quốc tế; chương trình thạc sỹ Luật kinh tế; chương trình thạc sỹ Chính sách và Luật thương mại quốc tế; chương trình thạc sỹ Kinh doanh – Thương mại…). Đặc biệt, cuốn sách ra đời sẽ giúp ích rất nhiều cho các học viên cao học chương trình thạc sỹ Luật Kinh tế khi học tập, nghiên cứu môn học Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Ngoài ra, cuốn sách cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các môn học về thương mại quốc tế, luật thương mại quốc tế… của các cơ sở giáo dục đại học có đào tạo về kinh tế và luật của Việt Nam.
Sách chuyên khảo này được hình thành từ những nghiên cứu chuyên sâu của GS. TS. Nguyễn Thị Mơ (Viện Chính sách công và Pháp luật, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại Thương); PGS. TS. Trần Thị Thùy Dương (Phó Tổng biên tập Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam); PGS. TS. Doãn Hồng Nhung (Giảng viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội); TS. Hà Công Anh Bảo (Phó Trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại Thương); TS. Vũ Kim Ngân (Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại Thương); ThS. Phùng Thị Yến (Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại Thương) và ThS. Phùng Thị Phương (Giảng viên Khoa Kiến thức cơ bản, Trường Đại học Thể dục thể thao). Xin chân thành cảm ơn các tác giả đã dành nhiều tâm huyết, thời gian, công sức để hoàn thành các phần viết với những phân tích, nhận định giàu tính lý luận, có tính thực tiễn và có giá trị tham khảo cao.
Cẩm nang xuất khẩu sang thị trường Trung Đông được biên soạn nhằm mang đến cho độc giả cái nhìn toàn diện và hệ thống về: đặc điểm kinh tế, thương mại và nhu cầu nhập khẩu của các quốc gia Trung Đông; cơ hội dành cho hàng hóa Việt Nam, cùng phân tích chi tiết các nhóm mặt hàng thế mạnh; quy định pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và những lưu ý quan trọng trong quá trình giao thương; định hướng chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận và phát triển bền vững thị trường.
Hy vọng, với những nội dung trong cuốn sách này, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm một “bản đồ chỉ đường” tin cậy, một “chiếc chìa khóa” mở cánh cửa thị trường Trung Đông, qua đó không chỉ nâng cao giá trị thương hiệu hàng hóa Việt Nam, mà còn góp phần khẳng định vị thế của nền kinh tế Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.